Monday, February 21, 2011

ÔNG SÁU MẬP

Lathiews

1.
Tui nói trước với mấy cô cậu, lỡ mà tụi tui có tới chậm một chút thì cũng phải chờ, chứ không được chi trả cho họ cắc nào nghe. Vắng mặt tui là không được á ! “Tụi tui” đây tức là bà mẹ và đứa con gái, còn “họ” tức là ông chồng và người con trai. Bốn người chia làm ba phe, không còn sống chung dưới một mái nhà, lòng tin cũng không còn. Hôm qua tất cả đã đồng ý với giá cả bồi thường và thỏa thuận hỗ trợ thêm của công ty, Sáng nay bộ phận kế toán làm thủ tục chuyển nhượng và đi ngân hàng rút tiền. Hẹn hai giờ chiều nay sẽ chi trả một lần toàn bộ số tiền, với sự có mặt đầy đủ của các thành viên trong gia đình và chứng kiến của đại diện chính quyền địa phương. Vì không yên tâm nên bà mẹ và đứa con gái mới cất công đến gút lại lần nữa, với những lời lẽ không mấy thân thiện như vậy. Chỉ khi nghe được những lời cam đoan chắc nịch, bà mới yên tâm ra về. Khi ấy đã đến giờ nghĩ trưa nên bọn mình cũng nhanh chóng xếp dọn mọi thứ, khóa trái cửa phòng và bước xuống cầu thang. Ngay lúc đó một bóng người từ tầng trệt tất tả bước lên, nhảy từng hai bậc một, vừa thở vừa nói ngay khi nhận ra bọn mình: “Anh chị nhắn giùm với ông Giám Đốc, phải đủ bốn mặt một lời mới chi tiền nghe, thiếu một người cũng không được đó…”. Gương mặt anh thanh niên trông già trước tuổi vì dãi dầu mưa nắng, da thâm xám màu chì đặc trưng của dân xe ôm. Cũng giống như bà mẹ , khi đã nhận được lời trấn an thì anh mới chịu ra về .

Nhà đó đã xé làm ba phé từ lâu , thuật ngữ binh xập xám kêu là “xe đạp”, chỉ hơn mậu binh thôi. Tiền bồi thường tài sản được thoả thuận chia làm bốn phần bằng nhau, mỗi người một phần. Người con trai dự tính sẽ ẳm tiền về quê vợ ở Chơn Thành, tậu đất lập vườn. Người mẹ theo đứa con gái, thuê phòng trọ ở gần chợ Bình Phước từ lâu, gần nơi cô làm là Xí nghiệp đay Indira Gandhi. Chỉ còn lại người cha là ông Sáu, thường gọi là ông Sáu Mập, đang tá túc trong ngôi nhà cũ mái ngói vách ván nền gạch tàu xuống cấp trầm trọng chỉ chờ ngày tháo dỡ. Ông còn lưỡng lự chưa dứt khoát không biết nên về ở với bà vợ và con gái hay nên ở với con trai. Sự thật là dù ở với ai thì ông cũng sẽ thành một gánh nặng cho họ với chứng bệnh hen suyễn mãn tính nay yếu mai đau, mà dân gian hay gọi là đau rề rề, kéo dài năm này tháng nọ chớ không chết có phước như mấy người đứt mạch máu. Sở dĩ ông còn có giá trong mắt họ chỉ vì cái một phần tư kia, mà nếu ông quyết định theo về ở với người nào thì người đó sẽ được hưởng. Đó là nguyên cớ khiến bà vợ và người con trai của ông ăn ngủ không yên, phập phồng như mấy con bạc sắp tới giờ xổ đề.

2.
Văn phòng tạm của công ty đặt tại tầng hai của trụ sở Xã, chủ yếu trong thời kỳ bồi thường giải tỏa và hội họp tiếp xúc với dân, cần sự hổ trợ của chính quyền, nhất là bộ phận địa chính. Rất nhiều trường hợp, số tiền chi trả được gia đình thoả thuận phân chia tại chỗ dưới sự chứng kiến của đại diện Ủy Ban. Chiều nay cũng vậy, khi gia đình ông Sáu đã hoàn tất mọi thủ tục, ký tên lăn tay vào giấy chuyển nhượng, giao lại sổ đất cho công ty, nộp lại tiền thuế nông nghiệp mấy năm qua còn thiếu, ký nhận vào phiếu chi; thì cô thủ quỹ bắt đầu lôi mấy cọc tiền vuông vức còn thơm mùi mực, nguyên dấu niêm phong và dây nhợ bó chặt ra đặt lên bàn, chia làm bốn phần đều nhau. Từng người tiến đến, kiểm đếm cẩn thận và tự tay bỏ vào bao xốp màu đen do công ty chuẩn bị sẵn.

Đến lượt chót, phần của ông Sáu. Vị đại diện chính quyền lên tiếng trước, nhắc lại yêu cầu người nào được ông Sáu ủy quyền nhận phần của ông phải làm giấy cam kết cấp dưỡng nuôi ông suốt đời, không được bạc đãi. Ông đã đưa ra quyết định theo về sống với vợ và con gái. Người con trai lẳng lặng ra về trước, không một lời giã từ. Bà mẹ và cô con gái cũng ra về tiếp theo với cái bọc ba phần tư, sau khi có lời cảm ơn Công ty và Ủy Ban nhưng không cảm ơn ông Sáu. Ra về cuối cùng là ông Sáu, sau khi chắp tay chào khắp mọi người.

3.
Tin ông Sáu treo cổ tự vận gây xôn xao cả ấp, có người chê trách bà vợ quên nghĩa tào khang, có người chê ông ngu, có người chê hai con ông bất hiếu. Con trai ông từ Chơn Thành về làm đám cho ông tại ngôi nhà cũ, chỉ một ngày rồi đem hỏa táng bên Dĩ An, hủ cốt gởi luôn tại chùa. Còn bà vợ và đứa con gái biệt dạng. Không phải họ không tưởng đến ông, nghĩa tử là nghĩa tận mà, nhưng chắc họ sợ dư luận đàm tiếu chịu không nổi.

Mình đến thắp hương cho ông, mới hay sau ngày nhận tiền thì vợ con ông âm thầm đổi địa chỉ, không ai biết đi về đâu. Người con trai đã rút về quê vợ, bơ vơ không người chăm sóc ông mới sang tá túc bên nhà Bà Mười, là người em gái ruột nhưng chỉ được vài ba hôm, chịu không được sự lạnh nhạt của mọi người, ông quay về nhà cũ. Và ông đã nhờ đến sợi dây oan nghiệt để kết thúc cuộc đời…

Thực ra theo Luật Dân Sự thì cha mẹ có toàn quyền định đoạt tài sản, không nhất thiết phải chia cho con cái, nếu không ưng. Thậm chí chia cho con nuôi, bỏ con ruột cũng còn được. Trừ trường hợp con tật nguyền hay dưới trưởng thành thì luật buộc phải mặc nhiên chia cho một phần tối thiểu bằng hai phần ba một suất theo luật định. Rất ít người biết cái Luật này ./.

( 02 -2011)

Monday, February 14, 2011

THẰNG BỜM BÁN CÁI QUẠT MO

Lathiews

1.
Giám Đốc đang giận, rất giận, vì bị cái thằng không biết điều kia chọt gậy bánh xe, không phải là bánh xe lịch sử mà là bánh xe đền bù giải tỏa, một cái trục trong cổ máy Dự Án Khu Dân cư Cao cấp đang vận hành trơn tru. Miếng ăn đưa tới miệng còn rớt, hỏi ai không giận.

Hiếu, tên thằng không biết điều, phản đối quyết liệt cái giá mà công ty đưa ra cho năm công đất của …ba má nó, mà trên đó vợ chồng nó đang trồng cấy rau muống. Luật quy định nếu trên Giấy Chứng Nhận Quyền Sử Dụng Đất ghi là cấp cho Hộ thì giấy tờ chuyển nhượng phải có đủ chữ ký của tất cả những người trên 18 tuổi có tên trong sổ hộ khẩu. Nên mặc dầu ba má anh chị em nó đã xiêu lòng mà nếu nó không chịu ký thì kể như huề.

Chẳng phải Hiếu có lòng tưởng nhớ công lao tổ tiên ông bà đã tạo ra mảnh đất mà không nỡ bán, mà thực ra tại nó lo cho nồi cơm của gia đình  bị bể một khi giao đất cho công ty. Hai ngày cắt rau một lần , thu nhập kể cũng tạm nuôi sống hai vợ chồng và mấy chiếc tàu há mồm đang trong thời kỳ mau ăn chóng lớn. Dù công ty có hứa hẹn sẽ để lại đám rau cho nó thu hoạch tới khi nào công ty tiến hành san lấp, nhưng nó thực sự không cảm thấy yên tâm. Nên nó chọn giải pháp cù nhây cù nhằng, chê lên chê xuống cái giá đề nghị của công ty để kéo dài thời gian. Còn các anh chị nó ở xa, tất cả đều đã có nhà cửa, công ăn việc làm ổn định, xem việc được cha mẹ chia cho một phần tiền bán đất như tiền trên trời rơi xuống, bi nhiêu cũng được không cần mặc cả.   

Giám Đốc chẳng sợ gì nó, một thằng khố rách áo ôm dám đội đá vá trời, nhưng bực mình ở chỗ mảnh đất của gia đình Hiếu nằm ở vị trí trung tâm, mấy mảnh đất xung quanh đã chuyển nhượng xong, không thể để đất dự án ở tình trạng xen cài lốm đốm da beo gây khó khăn cho san lấp và thi công sau này. Giải phóng mặt bằng là khâu rất quan trọng, ai ở trong nghề đều biết như vậy, cho nên một cuộc họp khẩn được triệu tập ngay trong phòng Giám Đốc, sau đó thì tất cả đều đồng ý với một giải pháp được xem như tối ưu. Một sứ giả ( gọi cho oai , thực tế là cò đất ) lãnh nhiệm vụ thực hiện với sự hỗ trợ của kế toán và thủ quỹ.

2.
Tiết lộ của Wikileaks :
….Dù công ty có cơi giá lên thêm vài lai thì tiền đó cũng chia năm xẻ bảy, anh đâu có được chia thêm bao nhiêu đâu. Công ty rất thấu hiểu hoàn cảnh khó khăn của gia đình anh, nên đề nghị hỗ trợ riêng một khoản là năm chục triệu đồng, nếu anh đồng ý có thể nhận ngay bây giờ. Chuyện này chỉ có tôi và vợ chồng anh biết, còn ngoài ra sẽ không tiết lộ cho bất cứ ai, kể cả người trong gia đình anh…

3.
Sáng ngày hôm sau thì bản hợp đồng chuyển nhượng với đầy đủ chữ ký và dấu lăn tay đã được đặt ngay ngắn trên bàn Giám Đốc. Tất cả người trong gia đình Hiếu đều có mặt đông đủ tại phòng kế toán, chờ làm thủ tục lãnh tiền. Giao dịch xem như thành công, mọi người đều hể hả vui mừng, nhưng phải nói mừng nhất là Giám Đốc, qua lời nói của ông với kế toán trưởng trong phòng riêng: “ Đéo quả, thí cho nó năm chục quá rẽ. Nó mà đòi lên thêm hai lai thì mình cũng đi đứt tỷ bạc! ”.  

( 2 – 2011 ) 

Sunday, February 13, 2011

ĂN CƠM CỦA CHÚA…

Lathiews

“ Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu”
Luật Đất Đai 2003

        Đang giám sát mấy chiếc phà bơm cát san lấp, cao trình đã gần đạt “cốt” nền, chuẩn bị bàn giao cho các đơn vị thi công hạ tầng thì điện thoại réo, gọi mình về công ty có việc gấp. Khi đẩy cửa bước vào văn phòng thì cô nhân viên văn thư đã chực chờ sẵn từ hồi nào, đưa ra ngay một phong bì bên ngoài có đóng dấu đỏ, kèm theo khẩu lệnh của Giám Đốc là bằng mọi cách phải chuyển đến tận tay người nhận, đồng thời phải có chữ ký của người nhận trên bao thư đem về nộp lại làm hồ sơ lưu. Gì mà ghê vậy ? Thấy thư không dán kín, mình bèn rút ra xem nội dung trước. Thì ra là công văn yêu cầu tự tháo dở nhà ở và các công trình phụ của công ty gởi Em Nhỏ, một trong bảy hộ chưa chịu “hợp tác” , nghĩa là còn nấn níu chưa chịu giao lại mặt bằng, nói trắng ra là còn ngoan cố. “…làm chậm trễ tiến độ thực hiện dự án…thiệt hại đến quyền lợi các bên liên quan… sau ngày 12 tháng 5 năm 200..; công ty sẽ tiến hành cưỡng chế tháo gở, mọi thiệt hại xảy ra nếu có chủ hộ phải hoàn toàn chịu trách nhiệm… đồng kính gởi UBND các cấp…”. Nội dung thông báo vẻn vẹn có hơn trăm chữ trên một nửa tờ A4 nhưng có sức nặng nghìn cân, quyết định đến vận mạng của năm con người đang co cụm dưới mái một căn nhà cấp 4C nằm chơ vơ cô lẽ giữa một cánh đồng hoang phế, từ lâu đã không còn trồng cấy gì nữa.

Em Nhỏ là tên thường gọi, còn tên trong khai sanh là Trần Văn Hiếu, nhưng ít người biết. Làm nông, chạy chợ Đầu mối Nông Sản Thủ Đức, công nhân Khu công nghiệp Sóng Thần, rồi Khu công nghiệp Đồng An, cuối cùng ra ngã tư Gò Dưa đội nắng đội mưa với chiếc xe Dream Trung Quốc hành nghề xe ôm. Vợ làm công nhân hãng mì gói A-One bên kia cầu Bình Phước thuộc quận 12, còn ba đứa nhỏ hàng ngày đạp xe đi học tận phường Bình Chiểu, Thủ Đức dù hộ khẩu ở Bình Dương vì dù sao cũng còn gần hơn trường học ở thị trấn Lái Thiêu. Cái đáng quý của Em Nhỏ là nghèo nhưng biết lo cho tương lai các con và giữ gìn tài sản đất đai ông bà để lại chứ không ham tiền quy hoạch. Hôm hiệp thương, dù thấy rõ phương án đất đổi đất quá thiệt nhưng cuối cùng Em Nhỏ cũng đành chấp nhận: sáu mét đất vườn (hoặc mười mét đất ruộng) lấy một mét đất nền tái định cư đã hoàn chỉnh hạ tầng; kết quả là Em Nhỏ nhận được một nền nhà một trăm mét vuông (trên giấy) và bảy mươi tám triệu tiền bồi thường tài sản trên đất. Rắc rối là khi được dỗ ngon dỗ ngọt ký vào hợp đồng và giao sổ đất, Em Nhỏ và đa số người dân đều không phát hiện bên A lờ đi cam kết thời hạn giao đất mà chỉ ghi chung chung khi đã hoàn tất hạ tầng (?), trong khi buộc bên B phải giao lại mặt bằng chỉ ba tháng sau ngày ký. Nghĩa là mọi người phải tự lo lấy nơi ở tạm trong thời gian chờ đợi, có thể là hai năm, năm năm hoặc hơn nữa tùy theo khả năng của công ty. Trong số gần tám mươi nóc gia nằm trong diện giải tỏa thì hơn phân nửa là nhận tiền, số còn lại thuộc diện hoán đổi đất chỉ Em Nhỏ là tứ cố vô thân. Những con người hả hê với những cọc tiền vuông vức, dây nhợ phong kín trong những bao túi màu đen kia, nhìn những người đổi đất bằng ánh mắt tội nghiệp, thương hại như nhìn những kẻ ngây thơ bị mắc lỡm mà không biết vậy! Phải , những con người ly nông kia đã đạt được giấc mơ đổi đời, giã từ cái cuốc cái liềm, giã từ đồng ruộng hai mùa mưa nắng, giã từ chiếc áo lao động bạc màu khô cứng để tập làm quen với nếp sống thị dân. Từ bỏ luôn nếp sống khoáng đạt để gia nhập vào dòng đời chen chúc, chật hẹp với bao ưu phiền tỵ nạnh. Trước tiên hãy sắm sửa thụ hưởng cái đã , mọi việc tính sau… Đồng tiền quy hoạch thường tỷ lệ nghịch với  những giá trị đạo lý truyền thống trong gia tộc, nhất là trong thời buổi kinh tế thị trường, tiền là Tiên là Phật, là sức bật của tuổi già ,là  cái đà danh vọng , là cái lọng che thân , là cái cân công lý… Những đồng tiền đó cắt đứt tình máu mủ, như hội chứng ung thư phá hủy các tế bào xã hội đã được vun đắp từ hàng bao thế hệ đi trước.

        Mình là một thành viên trong đoàn kiểm kê áp giá bồi thường , khi xuống dân đo đạc kiểm đếm thì thường hay bị lườm nguýt, nói kháy thậm chí chửi rủa thô tục. Biết sao được, ăn cây nào rào cây nấy chớ sao. Nhưng cách tính rộng rãi của mình đôi khi có lợi cho người dân nên nhận được cảm tình của họ: đo nền thì áp từ mái chiếu xuống chứ không đo móng; đếm cây thì dư dôi, nâng tuổi… Một lần Em Nhỏ tâm sự với mình: “ Em không muốn lấy tiền vì muốn giữ lại đất đai của ông bà cho tụi nhỏ sau này, dù có khó khăn trước mắt nhưng ăn vào phần của ông bà để lại cho con cháu sao đành…”. Câu nói khí khái của một kẻ thất học mới cảm động làm sao! Hơn xa những kẻ tự khoe trí thức nhưng không còn nhân tính, tự hào đỉnh cao trí tuệ nhưng đã đứt sợi dây mắc cở.

        Thực ra mình cũng biết rất rõ khó khăn của công ty, càng chậm tiến độ thì càng è cổ trả lãi ngân hàng; cơn sốt đất đi vào thoái trào thì càng khó huy động vốn. Mỹ từ “ huy động vốn ” thực ra chỉ là một cách nói; còn trên giấy tờ gọi là Hợp đồng hợp tác đầu tư, nghĩa là bên ứng trước tiền, bên cam kết sẽ bán nền. Một phần số tiền đó chi trả cho người có đất bị quy hoạch, phần còn lại gồm chi phí vô hình và hữu hình. Giới địa ốc gọi hóm hỉnh phương thức kinh doanh này là tay không bắt giặc. Chỉ những người có thế lực như tay Giám Đốc của mình;  nhờ tập ấm mà hưởng lộc; mới có thể tiếp cận các dự án còn nằm trong trứng nước mà nhanh tay xí phần. Cười ra nước mắt là những kẻ có khả năng mua nền hầu hết là những người đầu cơ kiếm lợi mà không có nhu cầu sử dụng, còn những người có nhu cầu thực sự thì suốt đời không bao giờ vói tới vì phải cái tội nghèo. Ngay cả những người có tiêu chuẩn tái định cư như Em Nhỏ, sau này khi được giao nền cũng chưa chắc lo được tiền để xây nhà theo quy định của khu dân cư mới; nơi mà người ta buộc phải lên một tấm hai tấm theo quy định để giữ mỹ quan đô thị !

Trời xui đất khiến thế nào mà khi mình còn tần ngần chưa quay bước thì vị Giám Đốc lại xuất hiện đi ngang qua, thân mật vỗ vai kéo mình vào phòng riêng để trao đổi. Ai hay đất bằng dậy sóng chỉ vì một cái vỗ vai như vậy. Toàn công ty chỉ mình là người địa phương, thuộc lòng đường ngang ngõ tắt toàn khu đất, lại quen biết hầu hết dân địa phương và chính quyền cơ sở. Việc được xếp tham vấn là chuyện thường, giống như cán bộ phụ trách dân vận, có khi thành dân “giận”. Cho nên cái việc đi giữa hai làn đạn là sự thường, nhiều lần mình đã tháo ngòi nổ thành công, giúp cho ổn thỏa cả đôi bề, nhưng lần này mình cảm nhận được tầm quan trọng sự việc qua tính thừa quyết liệt nhưng thiếu cơ sở pháp lý của nội dung tờ thông báo, rõ ràng do một kẻ xu nịnh mà mình có thể vạch mặt chỉ tên đã thảo ra để chiều lòng cấp trên. Nội việc băn khoăn của Giám Đốc cũng chứng tỏ trong lòng ông cảm thấy có điều gì đó không phải, không hoàn toàn đúng hết khi đặt bút ký. Khi cánh cửa khép lại sau lưng thì mình quyết định lần này sẽ nói thẳng nói thực, không thỏa hiệp tránh né, rồi tới đâu thì tới.

2.
Trích một phần nội dung cuộc trao đổi :

- Việc mua bán là sòng phẳng theo đúng trình tự thủ tục và quy định của nhà nước , nào chúng ta có o ép ai đâu ?
-Ở đây không nói vấn đề mua bán hợp lệ hợp pháp hay không vì thực ra người ta đâu có rao bán nhà đất mà anh nói là mua sòng phẳng; chẳng qua chúng ta được nhà nước giao quyền sử dụng đất theo quy hoạch, còn họ là những người bị nhà nước thu hồi quyền sử dụng đất, thế thôi.
- nhưng cái nhà đó là tài sản của công ty chúng ta, phải vậy không? Chúng ta đã thanh toán tiền bồi thường rồi, chính anh là người kéo thước đo đạc, áp giá cũng như có mặt trong lúc thanh toán. Công ty chúng ta đã hào phóng cho lại toàn bộ số tài sản đó, như vậy chưa đủ tỏ thiện chí sao? Ngày tháo gỡ theo quy định cũng qua lâu rồi, nếu không quyết liệt thì chừng nào ta mới khởi công được ?
- Chúng ta định giá căn nhà là để xác định khoảng tổn thất cần phải bồi thường chứ đâu phải mua bán gì. Thực tế người ta đâu có bán đâu mà chúng ta mua. Số tiền đó liệu người ta có cất lại được căn nhà giống như vậy ở nơi khác không? Anh nên nhớ căn nhà của Em Nhỏ đã trải qua tới thế hệ thứ ba rồi, nghĩa là đã có gần trăm tuổi, rất lâu trước khi Luật Đất Đai ra đời. Chúng ta ở đâu tới đây, trương cái bảng quy hoạch to đùng lên, rồi họp dân công bố, rồi động thổ khai trương, rồi đền bù giải tỏa… Những việc đó đã gây xáo trộn rất lớn đến đời sống của người ta. Những thiệt hại vật chất dễ thấy, còn những tổn thất vô hình khác như xáo trộn việc làm, học hành, chợ búa, thay đổi nếp sống … không dễ thấy.
- Họ đi đâu ở đâu thì cũng không phải việc của chúng ta, bởi vì chúng ta là một doanh nghiệp kinh doanh kiếm lợi nhuận chứ đâu phải một cơ quan xã hội chuyên làm từ thiện ? 
- Nếu không phải là trách nhiệm của chúng ta thì là trách nhiệm của ai ? Anh có nghĩ đến tình huống khi chúng ta cào nhà Em Nhỏ thì hắn sẽ bồng bế dắt díu nhau lên ăn vạ Ủy ban, cắm lều ở tạm trước sân trụ sở Xã không vậy ? Đến chừng đó nếu báo đài vào cuộc thì hậu quả khôn lường… Trường hợp Em Nhỏ rất đặc biệt, chính đáng nằm trong diện đổi đất lấy đất, cũng có lợi cho chúng ta trước mắt đỡ phải chi một khoản tiền mặt, giãm bớt áp lực tài chánh, hơn nữa trong phương án bồi thường tái định cư cũng có nói đến trường hợp này là chúng ta phải thực hiện chính sách tạm cư cho đến ngày giao nền … mong anh nghĩ lại.
- Giải quyết cho một Em Nhỏ thì sẽ có hàng chục lá đơn Em Nhỏ khác, liệu chúng ta có kham nổi không ?
- Anh nên tranh thủ sự đồng tình của bảy hộ còn lại, dù sao cũng còn rẻ hơn chi phí cưỡng chế… Mỗi phòng trọ giá năm trăm thì mỗi tháng công ty chúng ta chỉ mất hơn năm triệu, mà tạo được sự đồng thuận rất có lợi…   
- Anh là người ăn cơm của công ty, lãnh lương của công ty mà sao tôi thấy phát biểu toàn là binh dân không vậy ?  
-  Thực lòng tôi rất muốn gắn bó lâu dài với công ty, vì công ty có ăn nên làm ra thì bản thân tôi và vợ con mới có phận nhờ,  nhưng tôi mong thực lòng công ty chúng ta làm giàu chính đáng bằng công sức và trí tuệ chứ không phải bằng những thủ đoạn o ép như vậy….
Có lẽ không cần ghi chép đoạn kết ra đây vì các bạn đọc thông minh của mình dư sức đoán được đoạn kết như thế nào rồi…

3.
Câu chuyện đã xảy ra lâu rồi, mình cũng đã lâu không về chốn cũ một phần vì không muốn nhắc nhớ lại những kỹ niệm buồn, một phần vì bị lôi cuốn vào công việc mới. Chỉ những đêm khuya nằm thao thức, nghe văng vẳng tiếng rao “chưng, gai, giò…đây” cứ ngờ ngợ phải chăng người bạn cũ ? Hay những chiều tan sở, từ trong phòng máy lạnh bước ra ngoài trời hâm hấp đầy gió bụi, thoáng giật mình vì bóng một người bán bắp nấu bên vệ đường sao giống vợ Em Nhỏ năm xưa quá. Cầu trời xin phò hộ cho gia đình Em Nhỏ sống bình yên. Lẽ nào những con người trung thực lại chịu thiệt thòi mãi sao ?

( 2-2011)

Monday, November 29, 2010

Chí Phèo Đông Bắc Á

LATHIEWS

     1. Chí Phèo là tên nhân vật chính trong một truyện ngắn có tựa cùng tên của nhà văn Nam Cao , ra đời năm 1941, thuộc dòng văn học hiện thực phê phán, cốt truyện lấy bối cảnh ở một miền nông thôn đồng bằng Bắc bộ trước năm 1945. Đây là một tác phẩm văn học nổi tiếng, đã được đưa vào giảng dạy trong nhà trường, mục đích lên án chế độ thực dân phong kiến đã bần cùng hóa người dân Việt Nam. Dưới ngòi bút miêu tả, khắc họa tính cách nhân vật thật sắc sảo, sinh động của Nam Cao; Chí Phèo đã trở thành biểu tượng điển hình cho những kẻ nát rượu, lưu manh, tha hóa biến chất, sống dưới đáy xã hội, chuyên nghề gây gỗ và ăn vạ; kẻ đã biết tận dụng tối đa ưu thế " cùi không sợ lở " của mình và khai thác tâm lý ngán ngại va chạm, cầu an của số đông. Do đó, mặc dù ý đồ của người viết ( và quan điểm của nhà nước nhân dân ) là mong muốn có sự cảm thông, chia sẽ cho một mảnh đời bất hạnh để qua đó lên án chế độ thực dân thì ngược lại, đa số người đọc lại có cảm giác khinh bỉ, ghê sợ nếu không muốn nói là đầy ác cảm với nhân vật này. Một phần bởi vì nó gợi nhớ lại một thời kỳ đau thương qua chưa lâu trước đây: nghèo là một thành tích tốt, người ta hãnh diện khoe mình nghèo; còn giàu là một tội lỗi vì chỉ có bóc lột mới giàu được (!) ; lý lịch trong sạch phải mạt ba đời, làm gà phải cắt kéo, người buôn bán gọi là con buôn. Nếu gọi Chí Phèo là sản phẩm của chế độ bất nhân, người bóc lột người thì bảy mươi năm sau, hình ảnh Chí Phèo không những không mất đi mà còn nhân bản lên gấp hàng trăm, hàng ngàn lần với những biến thái độc đáo thời kinh tế thị trường; từ một tên lưu manh nhà quê đã trở thành một thằng điếm chợ chuyên nghiệp.

     2. Nơi tôi ở cũng có một con cháu Chí Phèo, hay gọi là Chí Phèo đệ tam, đệ tứ cũng được. Gia đình Chí tạm trú trong một phòng trọ xập xệ đầu con hẽm lớn, buổi chiều vợ bán cháo lòng cho dân lao động chiếm hết nữa lòng đường, bổn phận của Chí chỉ là khuân dọn bàn ghế nếu còn tỉnh táo, còn ngoài ra thì tha hồ say sưa, mượn rượu để chửi đổng thiên hạ, nằm lăn ra giữa hẽm mà cản trở xe cộ, người qua lại và nhất là giả say để hù dọa xin đểu…tiền. Khoái nhất là được va quẹt để ăn vạ tiền cơm thuốc. Sở dĩ Chí quen thói, được nước làm tới là vì hắn nắm bắt được tâm lý sợ phiền phức rắc rối của nhiều người, không muốn dây dưa với một kẻ liều mạng; đụng với hắn như chén kiểu đụng với gáo dừa; chỉ chuốc thêm bực tức nên đa số đều chọn giải pháp thua thiệt về phần mình ( nhiều khi phải bồi thường lãng xẹt ) để xin hai chữ bình an. Bên trong hẽm có mấy cơ sở may gia công và hàn tiện,chịu hết nổi với mấy màn quấy rầy của hắn mới bàn nhau đưa Chí vào nề nếp bằng cách tuyển dụng làm… bảo vệ, ấy gọi là dĩ độc trị độc. Nhưng chỉ một thời gian ngắn thì Chí nhận ra rằng làm bảo vệ không khoái vì bị gò bó đủ thứ, không bằng làm Chí … Phèo nên sau đó thì mèo lại hoàn mèo, cốt khỉ hoàn cốt khỉ. Nay thì người dân chỉ còn mong sao cho hắn sớm bị xơ gan, đi theo Lưu Linh để bà con được nhờ. Mà ngày đó chắc cũng chẳng còn xa vì hiện hai chân hắn đã bị phù thủng rồi. Dù sao thì cũng có thể tha thứ cho Chí Phèo này được, vì hắn chẳng có dã tâm giết chóc gì ai, cũng không làm gì phạm pháp đến mức xử lý theo luật hình sự, chủ yếu chỉ gây rối cho mọi người nhớ ta đây là …Chí Phèo. Thậm chí gia đình hắn cũng thỉnh thoảng nhận được sự giúp đỡ từ chính những nạn nhân của hắn, theo đúng tinh thần lá lành đùm lá rách của dân tộc Việt.

     3. Mấy hôm nay đọc báo mạng, bổng nhiên tôi rùng mình vì hay tin Chí Phèo nay đã lớn mạnh thành ra một …quốc gia. Lợi dụng việc nằm giữa các nước đang ổn định về chính trị, phát triển mạnh mẽ về kinh tế; Chí chọn con đường phát triển mạnh mẽ về quân sự và công nghiệp quốc phòng, nói trắng ra là phát triền vũ khí hạt nhân và vũ khí giết người hàng loạt, nhân danh quyền tự vệ chính đáng. Sau đó đem vũ khí ấy ra hăm he; mặc cả với láng giềng để đổi lấy lương thực thực phẩm, nhiên liệu năng lượng, thuốc men y tế và các loại hàng hóa khác. Và cũng giống như người dân xóm tôi, các quốc gia láng giềng đành phải bấm bụng mà mua lấy sự bình an, tránh bị sự quấy rầy liên miên của Chí. Hội nghị sáu nước họp bàn về việc giải trừ vũ khí hạt nhân thật giống với cuộc họp tổ dân phố của xóm tôi hôm nào: khi có người nêu lên ý bắt Chí đi tập trung lao động cho chừa cố tật thì cũng có người bênh vực, hỏi rằng rồi ai sẽ nuôi sáu đứa con nheo nhóc của hắn. Đáp lại gợi ý nên giúp đỡ vật chất cho gia đình của Chí thì cũng có người phản bác, nói rằng xưa nay giúp ngặt chứ không ai giúp nghèo. Lòng từ thiện nên đặt đúng chỗ chứ không phải của kho vô tận. Nói gà nói vịt một hồi rồi giải tán, chẳng đi đến đâu; rốt cuộc Chí vẫn Phèo như cũ.

     Thật tội nghiệp khi nhìn thấy hình ảnh người dân của Chí với gương mặt khắc khổ lấm lem không một nụ cười, tương phản với những gương mặt ngoại giao béo tốt nọng thịt. Hàng năm, đất nước ấy vẫn thiếu đói triền miên, hụt trên một triệu tấn lương thực, phải nhờ viện trợ của các nước và tổ chức quốc tế phi chính phủ ( NGO ) nhưng vẫn không ngớt lên án những kẻ thù có thật và không có thật. Để trút lên đầu chúng tất cả những khổ đau mà người dân đang gánh chịu.

*****

Wednesday, November 24, 2010

Mạc Triều: Ngàn Năm Công Tội

KIẾN HÀO

Quan niệm phong kiến xưa xem đất nước thuộc quyền sở hữu của nhà vua , nên trong lịch sử có nhiều trường hợp khi sự tồn tại của vương triều bị đe dọa , kẻ thống trị sẵn sàng đem lãnh thổ làm vật trao đổi với ngoại bang, hòng cũng cố địa vị đang bị lung lay hoặc giành lại vương quyền đã mất, kể cả việc rước quân xâm lược về giày xéo quê hương, ngoảnh mặt làm ngơ trước những nổi thống khổ của nhân dân, miễn sao giữ được đặc quyền đặc lợi. Hồ Hán Thương, Mạc Đăng Dung và Lê Cảnh Hưng là ba ông vua đã cắt đất dâng Tàu. Ngày nay nếu nhìn lên bản đồ Việt Nam, sẽ dễ nhìn thấy đường biên giới từ Quảng Ninh đến Lạng Sơn bị lõm vào một đoạn. Trong đó có phần đất của Việt Nam đã bị ba kẻ tội đồ trên nộp cho nhà Minh.  

THÍ VUA, SOÁN NGÔI, LỘNG GIẢ THÀNH CHÂN:

Mùa thu, tháng 7, ngày 27 năm Nhâm Ngọ (1522), vua Lê Chiêu Tông bị quyền thần Mạc Đăng Dung bức bách quá ngặt, đang đêm bèn bỏ chạy ra ngoài hoàng thành, hiệu triệu các trấn Sơn Tây, Sơn Nam, Hải Dương và Kinh Bắc mưu dấy quân khôi phục vương quyền, vì chiến sự không lợi nên lui về Thanh Hoa cố thủ. Mạc Đăng Dung thừa cơ, lập hoàng đệ Xuân tức Lê Cung Hoàng lên ngôi vua, phế (vắng mặt ) Chiêu Tông làm Đà Dương Vương. Tháng 10 năm 1525, Mạc Đăng Dung huy động toàn bộ binh lính thủy bộ đánh vào Thanh Hoa, bắt được Chiêu Tông đem về giam ở Đông Kinh. Tháng 12 năm 1526, Mạc Đăng Dung sai Bá Khuê bá Phạm Kim Bảng bí mật giết vua Lê Chiêu Tông tại phường Đông Hà (phố hàng Chiếu Hà Nội ngày nay) rồi tự lập làm vua (1527 ). Ít tháng sau, Lê Thái hậu và Cung Vương đều bị giết. Triều ( Hậu ) Lê tính từ Lê Thái Tổ mở nước dựng nghiệp đến đây là đúng một trăm năm [trang122,119]. Sử đời sau gọi là thời kỳ Lê sơ.
Đại Việt sử ký toàn thư ( chính biên, tờ 72a) chép: “ Năm Mậu Tý ( 1528 ), Mạc Đăng Dung sai người sang Yên Kinh báo với nhà Minh rằng con cháu họ Lê không còn ai thừa tự nữa, dặn lại cho đại thần là họ Mạc tạm coi việc nước, cai trị dân chúng. Vua Minh không tin, bí mật sai người sang dò thăm tin tức trong nước, xét hỏi duyên do, ngầm tìm con cháu họ Lê để lập nên. Họ Mạc thường trả lời bằng những lời lẽ văn hoa, lại đem nhiều vàng bạc đút lót ( sứ giả ). Đến khi sứ giả về, mật tâu là con cháu họ Lê đã hết, không ai nối ngôi được, đã ủy thác cho họ Mạc. Người trong nước đều tôn phục và theo về họ Mạc cả, xin tha tội cho họ. Vua Minh mắng không nghe, Đăng Dung sợ nhà Minh hỏi tội, bèn lập mưu cắt đất dâng nhân dân hai châu Quy, Thuận và hai tượng người bằng vàng và bạc cùng châu báu, của lạ, vật lạ. Vua Minh thu nhận. Từ đấy Nam Bắc lại thông sứ đi lại” .
Cũng sách trên chép:“ Năm Kỷ Sửu ( 1529 ) , bọn bề tôi cũ của nhà Lê là hai anh em Trịnh Ngung, Trịnh Ngang chạy sang tố cáo với nhà Minh. Họ Mạc liền đem nhiều lễ đút lót cho bọn quan lại nhà Minh để phá. Việc không thành, hai anh em đều chết bên Minh”.
           Việt Nam sử lược (chương hai: Nam Bắc triều) chép: “ Năm Đinh Hợi (1527) , Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê lên làm vua, đặt niên hiệu là Minh Đức. Nhà Mạc tuy đã làm vua, nhưng còn sợ lòng người nhớ nhà Lê, cho nên công việc gì cũng theo phép nhà Lê cả, rồi lại tặng phong cho những người vì nhà Lê mà tuẫn tiết, và lục dụng những con cháu các quan cựu thần, phong cho quan tước để dụ về với mình. Nhưng mà kẻ thì trốn tránh vào ở chỗ sơn lâm, kẻ thì đi ra ngoại quốc, kẻ thì đổi họ tên, không mấy người chịu phục. Lại có kẻ tức giận vì họ Mạc làm điều gian ác, tụ họp những người nghĩa khí nổi lên đánh phá…”.

 ĐẦU HÀNG NHÀ MINH, XIN NỘI THUỘC, CẮT ĐẤT CẦU PHONG:

Năm 1540, triều đình nhà Mạc lâm vào tình thế khốn đốn, phải chịu sức ép từ hai phía: ở phía Nam, quân Lê – Trịnh từ Thanh Hoa thường xuyên đánh ra; ở biên giới phía Bắc, quân Minh tập trung quân ở Khâm Châu, lập hành doanh Mạc phủ tại ải Nam Quan, chuẩn bị sang hỏi tội . Ở thế lưỡng đầu thọ địch, Mạc Đăng Dung chọn giải pháp đầu hàng giặc ngoài để rảnh tay lo thù trong. Một sự chọn lựa hoàn toàn phản dân hại nước, đi ngược lại quyền lợi dân tộc và bôi nhọ thanh danh dất nước, dâng nộp giang sơn lệ thuộc vào phương Bắc để bảo toàn quyền lợi phe nhóm, để lại tiếng xấu đến ngàn năm sau.
Đại Việt Sử ký toàn thư chép: “ Mùa đông, tháng 11, năm Canh Tý ( 1540 ), Mạc Đăng Dung cùng với cháu là Văn Minh và bề tôi là bọn Nguyễn Như Quế, Đỗ Chế Khanh, Đặng Văn Tri, Lê Thuyên, Nguyễn Tổng, Tô Văn Tốc, Nguyễn Kinh Tế, Dương Duy Nhất, Bùi Trí Vĩnh qua Trấn Nam Quan, mỗi người đều cầm thước, buộc dây ở cổ, đi chân không đến phủ phục trước Mạc Phủ của quân Minh, quỳ gối cúi đầu dâng tờ biểu đầu hàng, nộp hết sổ sách về đất đai, quân dân và quan chức cả nước để chờ phân xử, dâng các động Tê Phù, Kim Lặc, Cổ Sâm, Liễu Cát, An Lương , La Phù của châu Vĩnh An trấn Yên Quảng, xin cho nội thuộc vào Khâm Châu. Lại xin ban chính sóc, cho ấn chương, để kính cẩn coi giữ việc nước và chờ lệnh thay đổi hay quyết định khác. Lại sai bọn Văn Minh và Nguyễn Văn Thái, Hứa Tam Tỉnh mang biểu đầu hàng sang Yên Kinh.”.
Đại Việt thông sử của Lê Quý Đôn chép chi tiết hơn: “ …đúng kỳ hẹn trên, Đăng Dung lưu Phúc Hải ở lại giữ nước, rồi tự dẫn tiểu mục và kỳ nhân là bọn Nguyễn Như Quế, đến cửa Nam Quan ứng chực, thảy đều dùng vãi tự quấn vào cổ . Trên tướng đài đã đặt sẵn cái long đỉnh, các quan Phó giám Tam ty trong hai tỉnh Quảng nhà Minh đều ngồi đợi trên đài. Đến khi truyền lịnh mở cửa quan , Đăng Dung do cửa bên tả bước ra, bỏ giày đi chân không, quỳ gối quay mặt về phương Bắc, quan nhà Minh sai sinh viên Tạ Thiên Túng cởi những vải quấn ở cổ cho bọn Đăng Dung, và nhận tờ hàng biểu. Đăng Dung phủ phục lễ 5 lễ, cúi đầu vái 3 vái, cháu họ Đăng Dung là bọn Mạc Văn Minh cũng lần lượt lễ theo. Quan nhà Minh truyền rằng: “ Hãy dong cho đới tội về nước, chờ đây chuyển tâu lên triều đình, xin cho được khỏi tội chết…”.
Việt Nam sử lược chép: “ Đến tháng 11 năm Canh Tý ( 1540), Mạc Đăng Dung thấy quân nhà Minh sửa soạn sang đánh, sợ hãi quá chừng, bèn để Mạc Phúc Hải ở lại giữ nước, rồi cùng với bọn Vũ Như Quế cả thảy hơn 40 người, tự trói mình ra hàng, sang chịu tội ở cửa Nam Quan, lạy phục xuống đất để nộp sổ điền thổ và sổ dân đinh, lại xin dâng đất năm động là: động Tê Phù, động Kim Lạc, động Cổ Xung, động Liễu Cát, động La Phù. Lại đem vàng bạc dâng riêng cho nhà Minh” .

Về việc cắt đất giao cho giặc, các bộ sử chép có khác nhau: 

Theo Đại Việt sử ký toàn thư thì Đăng Dung cắt dâng các động Tê Phù, Kim Lặc, Cổ Sâm, Liễu Cát, An Lương, La Phù của châu Vĩnh An, trấn Yên Quảng xin cho nội thuộc vào Khâm Châu. Nhưng theo Khâm định Việt sử Thông giám cương mục (chính biên, quyển 27) thì có thể sách trên chép nhầm vì theo Khâm Châu chí của nhà Minh và Quảng Yên sách của ta thì An Lương vẫn thuộc châu Vạn Ninh nước ta.
Theo Đại Việt thông sử thì trong tờ hàng biểu, Mạc Đăng Dung tâu rõ: “ …hai đô Như Tích, Chiêm Lãng và bốn động Tư Phiêu, La Phù, Cổ Sâm, Liễu Cát là đất cũ của Khâm Châu tỉnh Quảng Đông. Nếu quả như vậy thì những đất ấy do triều trước họ Lê mạo nhận. Nay hạ thần xin tình nguyện dâng các xứ ấy lệ thuộc vào Khâm Châu…”.
Theo Việt Nam sử lược, năm động bị dâng là: Tê Phù , Kim Lặc,  Cổ Sung, Liễu Cát và La Phù, có lẽ chép theo Cương mục.
Tháng 10 năm Tân Sửu ( 1541 ), vua Minh nghe theo bản tấu của bọn Cừu Loan, Mao Bá Ôn phong cho Mạc Đăng Dung làm An Nam Đô thống sứ ty đô thống sứ [1], ban ấn bạc và sai giữ việc triều cống như lệ cũ, lịnh truy thu đủ lễ vật tiến cống hàng năm còn thiếu. Thu nạp đất 13 lộ cũ cho nhập vào Khâm Châu và đặt các quan chức quản hạt. Tuy nhiên trước đó 2 tháng, Mạc Đăng Dung đã chết nên không kịp thấy thành quả bán nước, đầu hàng giặc của mình.
            Tháng 12 năm Nhâm Dần ( 1542 ), nhà Minh lại phong Mạc Phúc Hải làm An Nam Đô thống sứ ty đô thống sứ. Sang năm sau, họ Mạc sai sứ sang tuế cống nhà Minh; khi vào chầu thì mọi việc tiếp đãi sứ bộ đều giản lược bớt đi vì họ không còn được coi là bồi thần [2]. 

TRAI CÒ MỔ NHAU, NGƯ ÔNG ĐẮC LỢI

Đây là một chương bi thảm nhục nhã của trang sử Việt: cả hai chế độ Lê – Trịnh và Mạc một mặt tranh thủ sự ủng hộ của vua quan nhà Minh bằng lễ vật tiến cống và của đút, một mặt kể xấu nhau không tiếc lời (với thiên triều ) để vạch áo cho người ngoài xem lưng. Quả thật thói thường hành vi của bọn quyền gian là độc ác tàn nhẫn với người trong nước mà quỳ lụy xu phụ hèn hạ với người nước ngoài. Một giai đoạn lịch sử đầy đau thương và nhục nhã: dân chết đói vì mất mùa, mất nhà cửa vì loạn lạc, đồng ruộng bỏ hoang mà Nam triều lẫn Bắc triều lại ganh nhau nạp cống cho Tàu. Vật phẩm cống nạp là máu mỡ của dân chớ phải đâu của riêng tư dòng họ, mĩa mai thay là cũng trong giai đoạn đó có biết bao nhiêu là khoa thi của hai triều, lấy đỗ hàng trăm vị tiến sĩ, thế mà không một ai dám lên tiếng can ngăn hay phê phán. Phàm cái gì bất chính thì không thể tồn tại, chiếm hữu bằng bạo lực thì sẽ chịu thất bại vì bạo lực. Mấy chục năm tồn tại vất vưởng ở Cao Bằng sau đó, chỉ giống như một viên phiên mục, chẳng qua là nhờ có sự can thiệp của nhà Minh, khi nhà Minh tiêu vong thì nhà Mạc cũng không còn.
            Đại Việt sử ký toàn thư ( bản kỷ tờ 72-b ), chép : “ …Mạc Đăng Dung sợ nhà Minh hỏi tội ( soán ngôi ), bèn lập mưu cắt đất dâng nhân dân hai châu Quy, Thuận cùng hai tượng người bằng vàng và bạc cùng châu báu, của lạ, vật lạ. Vua Minh thu nhận lấy…”.
Đại Việt thông sử ( tờ 36a -36b ) chép  nội dung tờ hàng biểu của Đăng Dung nộp vua Minh có đoạn sau : “ …về việc hạ quốc còn thiếu cống hiến trong mấy năm trước đây, tất nhiên sẽ xin nộp bù, và từ nay mỗi năm xin theo lệ cống hiến đầy đủ, cái đó hạ thần không dám kêu nài, là vì hạ thần hiện là kẻ có tội, đang cầu xin khỏi chết còn sợ chưa được. Hạ thần lại muốn chiếu theo lệ cũ triều trước của hạ quốc, định mỗi năm cống hiến một người bằng vàng để thế mạng, nhưng còn sợ đường đột nên chưa dám. Nay nhân tâu sớ đầu hàng, xin bệ hạ định đoạt, và xin cho hạ thần được tạm dùng quả ấn, lọng vàng, do thiên triều đã cho hạ quốc từ trước…”.
Cũng sách trên, chép về các khoản cống nạp của Mạc Phúc Hải cho vua Minh như sau: “ Mùa thu tháng 8 năm Nhâm Dần (1542), Phúc Hải sai Giao bắc tuyên phủ đồng tri Nguyễn Kính Điển, Thiêm sự Nguyễn Công Nghi và Lương Giản sang nhà Minh tạ ơn về sự được sắc phong , tiến dâng lễ phẩm bản xứ gồm : bốn lô hương và bình cắm hoa bằng vàng ( nặng 195 lạng ) ; một rùa bằng vàng ( nặng 19 lạng) ; hai lô hương và bình cắm hoa bằng bạc ( nặng 151 lạng) ; 12 mâm bằng bạc ( nặng 641 lạng) ; 60 cân trầm hương; 148 cân tốc hương [3]; 30 nén giáng chân hương ; 20 sừng tê giác ; 30 cái ngà voi, cùng các thứ hương thơm tơ lụa khác . Lại sai Nguyễn Chiêu Huấn, Vũ Tuân, và Tạ Đình Quang dâng các phương vật về lễ cống hiến hàng năm, cũng như các thứ kể trên. Sau bèn thành lệ.”[4] .
Việt Nam sử lược chép: “ Khi Trịnh Tùng đã thu phục được thành Thăng Long rồi, người nhà Mạc sang kêu với vua nhà Minh rằng họ Trịnh nổi lên tranh ngôi, chứ không phải là con cháu nhà Lê. Vua nhà Minh sai quan đến Nam Quan khám xét việc ấy. Tháng 3 năm Bính Thân ( 1596 ) vua Thế Tông sai quan Hộ Bộ Thượng thư là Đỗ Uông, Đô Ngự sử là Nguyễn Văn Giai lên Nam Quan tiếp quan Tàu; lại sai hai ông hoàng thân là Lê Ngạnh, Lê Lựu cùng với Tả thị lang bộ Công là Phùng Khắc Khoan đem 10 kỳ mục, 100 cân vàng, 1000 cân bạc, ấn An Nam quốc vương của vua Lê, ấn An Nam đô thống sứ của nhà Mạc, sang cho nhà Minh khám. Nhưng quan nhà Minh lại bắt vua Thế Tông phải thân hành sang hội  ở cửa Nam Quan. Trịnh Tùng sai Hoàng Đình Ái, Nguyễn Hữu Liêu đem một vạn quân đi hộ giá, nhưng sang đến nơi, quan nhà Minh lại đòi phải nộp người vàng và ấn vàng như tích cũ, rồi không chịu đến hội. Vua chờ lâu không xong việc lại phải trở về ”.  
Đại Việt sử ký toàn thư ( Bản kỷ tục biên, tờ 58-b ) chép: “ Tháng chạp năm Bính Thân (1596 ), vua Lê lại sai quan Hộ Bộ thượng thư là Đỗ Uông, Quảng quận công là Trịnh Vĩnh Lộc làm quan hầu mệnh, mang hai người vàng người bạc và các vật cống tới thành Lạng Sơn để đợi nhà Minh hội khám. Bấy giờ viên thổ quan Long Châu vì đã nhận nhiều của đút của họ Mạc, nên cứ về hùa với họ Mạc mà thoái thác, khiến cho việc chẳng thành, lại vừa gặp tết Nguyên đán, bọn Đỗ Uông và Vĩnh Lộc đành phải về kinh”.
Việt Nam sử lược chép: “ Đến tháng 4 năm sau (1597) , sứ nhà Minh lại sang mời vua Thế Tông lên hội khám ở Nam Quan. Triều đình sai quan Thái úy Hoàng Đình Ái đem 5 vạn quân đi hộ giá, sang hội ở Nam quan. Đến khi về, Trịnh Tùng đem các quan đi đón mừng rồi sai Công bộ tả thị lang Phùng Khắc Khoan làm chánh sứ, quan Thái thường tự khanh Nguyễn Nhân Thiêm làm phó sứ, đem đồ lễ sang Yên Kinh cống nhà Minh và xin phong ”.
Việt sử giai thoại ( tập 6 ) nhận định như sau: “ Họ Lê và họ Mạc lớn tiếng bêu riếu khắp nước vẫn chưa cảm thấy vừa lòng, cho nên mới tìm cách bêu riếu nhau trên đất thiên triều là nhà Minh. Đương thời, họ chỉ cốt nói sao  cho hả dạ căm tức, có biết đâu, cứ mở miệng nói mãi những điều chẳng tốt lành, thân danh cũng theo đó mà tan tành tơi tả. Ở đời, có phải lúc nào trình độ học vấn  và trình độ hiểu biết về văn hóa  cũng tương đương với nhau đâu !” .

KHUYNH HƯỚNG PHÊ PHÁN, LÊN ÁN CỦA CÁC SỬ GIA:

Đại Việt sử ký toàn thư, bản kỷ thực lục, tờ 79a-79b, Đăng Bính bàn : “…cứ xem mọi việc làm thì Đăng Dung chẳng qua là một viên đại thần của nhà Lê, đương lúc nhà Lê suy yếu, tôi mạnh, nếu hắn biết noi theo các bậc tôi giỏi, tướng hiền đời xưa, phò chúa , giúp dân như Y Doãn giúp Thái Giáp, Chu Công giúp Thành Vương thì công lớn huy hoàng ấy còn đáng ca ngợi. Sao lại không bắt chước thế mà đi làm ngược lại ? Thế thì không tránh khỏi cái tiếng bức vua ngường ngôi, cướp nước giết vua để mưu tự lập. Ngay lấy được nước, cũng chỉ khoảng sáu bảy năm, nếu gọi là thành công, cũng chỉ như Vương Mãng thôi, rốt cuộc không tránh khỏi họa tru di …còn như kẻ bội nghịch cướp ngôi, giết vua rồi miễn cưỡng tự lập, thì dẫu có xưng danh hiệu, cũng đều là danh bất chính lời không thuận cả, thì chép thành kỷ phụ, đều là nghịch cả thôi.…năm trước họ Mạc tuy đã được nhường ngôi nhưng vẫn ghi năm Thống Nguyên thứ 6 của triều Lê làm chính thống. Từ đây về sau, triều Lê không còn niên hiệu để chép nữa, mới lấy niên hiệu Minh Đức của họ Mạc chú riêng thành hai hàng. Không được chép thành kỷ chính thống là để tỏ rõ cướp ngôi là ngụy… bức hiếp lòng người, dối vua đến gò hoang, cướp lấy thiên hạ của triều Lê, tiếm xưng vị hiệu, vào ở nhà vàng, đủ vành giảo quyệt. Lấy một xó đất Hải Dương gọi là Dương Kinh, tự tiện phế bỏ lăng tẩm của Lê Triều, chém giết con cháu các công thần đời trước. Xét những việc làm của nó, không khác gì Tào Tháo. Đáng đau xót biết chừng nào !...”.
          Việt Nam sử lược ( tự chủ thời đại, chương hai) của Trần Trọng Kim : “ Mạc Đăng Dung đã làm tôi nhà Lê mà lại giết vua để cướp lấy ngôi, ấy là một người nghịch thần; đã làm chủ một nước mà không giữ lấy bờ cõi, lại đem cắt đất mà dâng cho người, ấy là một người phản quốc. Làm ông vua mà không giữ được cái danh-giá cho trọn- vẹn, đến nỗi phải cởi trần ra trói mình lại, đi đến quỳ lạy ở trước cửa một người tướng của quân nghịch để cầu lấy cái phú- quý cho một thân mình và một nhà mình, ấy là một người không biết liêm- sỉ.
          Đối với vua là nghịch thần, đối với nước là phản quốc, đối với cách ăn- ở của loài người là không có nhân-phẩm; một người như thế ai mà kính phục ? Cho nên dẫu có lấy được giang san nhà Lê, dẫu có mượn được thế nhà Minh bênh vực mặc lòng, một cái cơ nghiệp được dựng lên bởi sự gian ác hèn hạ như thế, thì không bao giờ bền chặt được. Cũng vì cớ ấy nên con cháu họ Lê lại trung hưng lên được ”.

          Phan Bội Châu trong tập sách Việt Nam quốc sử khảo ( chương thứ tám và chín ) đã kết tội Mạc Đăng Dung cướp ngôi, giết vua Lê; lấy đất đai , nhân dân dâng lên nhà Minh là tội đáng chém.  Khâm định Việt sử thông giám cương mục, do các sử gia triều Nguyễn chép , hay Đại Việt thông sử của Lê Quý Đôn triều Lê trung hưng cũng đều xem nhà Mạc là Nguỵ triều, nên phàm các danh hiệu đều chép là tiếm xưng , tiếm phong, chức quan gọi là ngụy chức. Lê Quý Đôn gọi sử nhà Mạc là nghịch thần truyện; tất cả đều phủ nhận tính chính thống của nhà Mạc, một chế độ được dựng lên bằng bạo lực và cũng bị phế bỏ  bằng bạo lực.
          Sách Lịch sử Việt Nam, tập 1 của Ủy ban KHXH (  Hà Nội - 1971 ) đã ghi lại như sau: “…họ Mạc còn dựa vào thế lực của ngoại bang , đầu hàng, thỏa hiệp với nhà Minh để hòng đổi lấy sự “ ủng hộ ” của nước ngoài. Độc lập dân tộc, toàn vẹn lãnh thổ và thanh danh của đất nước, đó là những điều thiêng liêng đối với người Việt Nam từ ngàn xưa, nay bị xúc phạm vì sự bất lực và hèn nhát của tập đoàn thống trị họ Mạc ”.

MỘT SỐ Ý KIẾN THEO QUAN ĐIỂM XÉT LẠI HIỆN NAY :

Từ sau 1975, các nhà làm sử hiện đại trong nước (chủ yếu là ở miền Bắc) mở nhiều cuộc hội thảo tham luận, đánh giá lại các triều đại như nhà Hồ, nhà Mạc hay các cá nhân như Hồ Quý Ly, Mạc Đăng Dung, Trần Thủ Độ, Dương Vân Nga, Lê Hoàn thậm chí cả Nguyễn Hữu Chỉnh và Đặng Tuyên phi… với những quan điểm, nhận định hoàn toàn khác trước. Rõ ràng thế giới quan, nhân sinh quan mỗi thời mỗi khác dẫn đến việc nhìn nhận các sự kiện lịch sử cũng khác.
Bài tham luận của giáo sư Phan Huy Lê đọc tại cuộc hội thảo khoa học về vương triều Mạc tổ chức tại Hải Phòng (quê hương họ Mạc ) năm 1994: “ Đánh giá xung quanh vấn đề này có những ý kiến khác nhau, nhất là chính sách đối ngoại của nhà Mạc đối với nhà Minh. Nhưng cuối cùng đã đi đến thống nhất: phải đặt nhà Mạc trong hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ. Nhà Mạc phải đối phó với nhiều thế lực phong kiến. Đòi hỏi phải có nhiều sách lược mềm mỏng. sách lược đó là  tránh chiến tranh , bảo vệ chủ quyền của mình.
          Việc dâng đất cho nhà Minh; nhà Mạc cắt bốn động  thuộc hai châu cho nhà Minh điều đó là có thật. Vì đất đó thực chất là của nhà Minh. Về phương diện nào đó nhà Minh đòi hỏi nhà Mạc phải trả lại. Và cũng về mặt nào đó nhà Mạc phải trả lại cho nhà Minh. Tuy nhiên việc làm này không thể chấp nhận được. Vì đó là nguyên tắc trong mối quan hệ bang giao. Nên dù sao trong chính sách đối với nhà Minh, nhà Mạc còn một số hạn chế ”.
          Việt Sử tân biên của Phạm Văn Sơn ( Sài Gòn – 1959 ), cho rằng : “Trên trường chính trị quốc tế, việc nhường đất để giảng hòa, để bãi một cuộc binh đao tai hại, các nhà lãnh đạo vẫn phải làm. Cũng như Nhật phải mở hải cảng Hạ Điền, Châu Quan cho Mỹ, mở Deshima cho Hà Lan; Trung Quốc phải cắt Hương Cảng cho Anh, nhường Mãn Châu cho Nhật.v..v…Nhà viết sử không chiếu xét kỹ tình thế mà cứ hạ lời phê phán gắt gao không khỏi có sự cố chấp nông cạn. Trái lại, không lượng sức mình mà đưa cả một dân tộc vào chiến tranh đến nỗi mất cả xứ sở, chết chóc muôn ngàn sinh mạng, đó mới là xuẩn động và đáng trách ”.
          Báo cáo đề dẫn của Nguyễn Văn Sơn tại hội thảo “Vương triều Mạc trong lịch sử Việt Nam” nhân dịp trùng tu di tích nhà Mạc tại Hải Phòng và kỷ niệm ngàn năm Thăng Long ngày 21 tháng 9 năm 2010 vừa qua có thể đại diện cho quan điểm của giới sử học Hà Nội, mong muốn có một cái nhìn khác về nhà Mạc, căn cứ trên những đóng góp về văn hóa giáo dục, kinh tế…của “ ngụy triều ” này : “  Từ những năm 1980 trở đi, giới sử học nước nhà ( trong nước ) đã có cái nhìn cởi mở hơn, đánh giá đúng hơn về triều Mạc. Nhiều cuộc hội thảo khoa học sau này đã có những đánh giá mang tính khoa học, khách quan về những đóng góp của nhà Mạc trong lịch sử nước nhà. Đặc biệt cuộc hội thảo khoa học năm 1994 tại Hải Phòng – quê hương của nhà Mạc đã khẳng định nguồn gốc nhà Mạc khởi nguồn từ trạng nguyên Mạc Đỉnh Chi thời Trần. Nhà Mạc thay nhà Lê là hiện tượng tiến bộ trong lịch sử. Tuy còn nhiều tranh cãi về chính sách ngoại giao “ thần phục giả vờ, độc lập thực sự ” của nhà Mạc nhưng nhiều ý kiến cho rằng trong bối cảnh thù trong giặc ngoài, nhà Mạc đã dùng chính sách ngoại giao như vậy để tránh cho dân tộc bị nước ngoài xâm lược cũng có thể coi là thành công, từ đó có cái nhìn thông cảm hơn với những công và tội của nhà Mạc.”

Lời bàn của Kiến Hào :

  1. Giết hai vua, hại chết Thái hậu, hãm hại trung thần, đầu hàng ngoại bang, hạ nhục quốc thể, vu khống triều cũ, đút lót mua chuộc, nộp sổ sách dân đinh, nộp bản đồ cương thổ, cắt đất dâng giặc, vơ vét tài nguyên nộp cống, nhận quan chức của nước ngoài …là thần phục thật sự rồi chứ giả vờ gì nữa. Lại còn bảo rằng để tránh cho dân tộc bị nước ngoài xâm lược ? Than ôi sao khéo dùng lời lẽ mà biến tội thành công như thế ! Quân nhà Minh chỉ hư trương thanh thế để hù doạ kẻ nhát gan chứ khi ấy ngay trên đất nước họ cũng đang phải đối phó với bao khó khăn: giặc cướp bể người Nhật ở ven biển, khởi nghĩa nông dân ở Hoa Bắc, sự dòm ngó của Tây phương, sự lớn mạnh của tộc Mãn Châu ở Đông Bắc…, vả lại gương thất bại nhục nhã của bọn Vương Thông ngày nào cũng khiến cho chúng phải chùn bước mà suy nghĩ lợi hại. 
  2. Lại còn có ý kiến kể công rằng sự nhẫn nhục của Mạc Đăng Dung không những trực tiếp cứu nhà Mạc mà còn gián tiếp cứu nhà Lê trung hưng, bởi nếu nhà Mạc bị nhà Minh diệt như nhà Hồ thì nhà Lê cũng sẽ bị nhà Minh diệt như nhà Hậu Trần. Sao lại có tư tưởng chủ bại, đầu hàng ngay từ trong tư tưởng như thế ? Ai biết nhà Minh diệt nhà Lê hay là sẽ có một Lê Lợi thứ hai đánh cho quân Minh tan tác, dạy cho quân xâm lược thêm một bài học nhớ đời ? Và hình ảnh một Mạc Đăng Dung sẽ tất tả chạy về Tàu theo tàn binh có khác gì một Lê Chiêu Thống sau này.
  3. Họ Mạc đầu hàng nhà Minh cốt để giữ lấy quyền lợi của dòng họ và ngôi vương của mình chớ nào nghĩ tới vì dân vì nước mà gọi là chịu nhục để bảo toàn độc lập ? Thương là thương cho dân đen phải chịu hai tầng áp bức chứ bữa cơm vương giả có kém đi món sơn hào hải vị nào đâu. Bằng chứng là sau khi đã có được sự bảo kê của nhà Minh thì họ Mạc lao vào cuộc chém giết huynh đệ tương tàn suốt mấy chục năm trời, núi xương sông máu ấy đã kéo lùi sự phát triển của đất nước hàng thế kỷ, sao lại gọi Mạc Đăng Dung là kẻ có công ? Độc lập dân tộc như thế phỏng có ích gì ?
  4. Quan niệm “ đất nhà Minh trả lại cho nhà Minh ” là một quan niệm rất nguy hiểm vì vốn đất ấy đã thuộc vào nước ta từ đầu thời Lê sơ; do các hào mục, động trưởng mến mộ oai đức Lê Thái Tổ mà tự nguyện xin nhập vào châu Vạn Ninh, mảnh đất đã xác lập chủ quyền ( lãnh thổ, dân tộc, chính quyền ) trải hàng trăm năm sao còn gọi là đất của nhà Minh? Không cướp đoạt bằng bạo lực sao gọi là “ trả lại đất đã chiếm” ? Ngày nay, các nước đều công nhận Phú Quốc thuộc Việt Nam, dù hòn đảo ấy gần Campuchia hơn ta nhiều. Vì ta có chủ quyền nơi ấy. Do đó lập luận đất cũ trả chủ cũ nói trên là ngụy biện, không thuyết phục, tóm lại chỉ có thể dùng một từ “ bán nước ” mà thôi.
  5. Nhường đất giảng hòa đôi khi là một thủ thuật ngoại giao dùng để tranh thủ thời gian cũng cố hoặc phát triển lực lượng, và việc nhượng bộ ấy cũng có những điều ước giới hạn quyền của kẻ chiếm đóng. Nếu không như thế thì không thể nào có được sự đồng tình và cảm thông của người dân, kể cả hậu thế. Do đó mà Phan Thanh Giản và vua Tự Đức vẫn chịu sự phán xét của lịch sử cho đến ngày nay; không ai nói rằng Phan Thanh Giản có công vì đã dâng thành Vĩnh Long cho Pháp, tránh được đổ máu vô ích dù đó là sự thật; hay hòa ước đầu hàng năm Giáp Thân 1884 đã tránh cho mảnh đất Trung kỳ không đổ nát nhưng tất cả người Việt yêu nước đều biết rằng đó là một sự đầu hàng nhục nhã, đưa đất nước vào vòng nô lệ suốt trăm năm.
  6. Tóm lại, muốn thay đổi quan niệm cũ , ủng hộ cái mới thì lý lẽ biện minh phải vững chắc, có tính thuyết phục cao, nếu không thì chỉ là cơn gió thoảng, ngụy biện vì động cơ cục bộ, xu thời, vài mươi năm sau thì không ai còn thiết đến.Cho nên mới có câu: “ Đóng đinh thì dễ, nhổ đinh thì khó ” là thế.
Chú thích :
[1] Đây là chức quan theo quan chế nhà Minh, vì khi Mạc Đăng Dung đầu hàng  thì Việt Nam đã nội thuộc vào nước Tàu, không còn là một nước nữa.
[2] Bồi thần có nghĩa là làm tôi cho hai triều ( triều Mạc và triều Minh ). Không theo lễ tiếp bồi thần vì không coi họ Mạc là vua chư hầu nữa, nên sứ giả cũng bị xem nhẹ.
            [3] Trầm hương thả xuống nước thì chìm, tốc hương thì nổi lên.
[4]  Kể từ giữa thời Mạc thì thay việc cống người vàng người bạc bằng bình hoa và lư hương với trọng lượng tương đương.

Tài liệu tham khảo :
- Đại Việt thông sử - Lê Quý Đôn , bản dịch Lê Mạnh Liêu – Bộ Văn Hoá Giáo Dục & Thanh niên Sài Gòn 1973  .
- Việt sử giai thoại - Nguyễn Khắc Thuần – NXB Giáo dục 2002
- Việt Nam quốc sử khảo – Phan Bội Châu , NXB Thuận Hóa 2001
- Đại Việt sử ký toàn thư - NXB Khoa học Xã hội – Hà Nội 2004
- Việt Nam sử lược - Trần Trọng Kim , NXB Tổng hợp TP HCM 2005
- Hỏi đáp lịch sử Việt Nam – Trần Nam Tiến chủ biên, NXB Trẻ 2008  

Sunday, October 31, 2010

Đoạn kết của vua Lê Chiêu Thống

KIẾN HÀO

Mùa Xuân năm Kỷ Dậu 1789, vua Quang Trung đại thắng quân Thanh, đuổi sạch quân xâm lược trốn chạy trối chết về phương Bắc . Lê Chiêu Thống và đám triều thần cũng chịu chung số phận , phải tạm nương náu ở Quế Lâm ( Trung Quốc) nhưng vẫn còn nuôi chí phục thù. Lúc bấy giờ Tôn Sĩ Nghị đã bị bãi chức, Tổng đốc Lưỡng Quảng mới là Phúc Khang An vốn là một văn quan cận thần trong triều, không thạo chinh chiến, lại thấy tận mắt đám tàn quân nam chinh lôi thôi lếch thếch chạy về trong lòng không khỏi ngán ngại nên quyết tâm theo kế chủ hòa. Từ đó thường xuyên thư từ qua lại với viên văn quan nước Việt là Ngô Thì Nhậm, mọi việc phối hợp nhịp nhàng khiến việc binh đao hai nước phải tạm lui. Cùng với Phúc Khang An, viên đại thần triều Thanh là Hòa Khôn đã nhận được nhiều vàng bạc đút lót nên khi tiếp tờ biểu cầu hòa dâng lên Càn Long, đã chủ động “ bàn lui ” khiến vua Thanh không còn nuôi mộng phục thù mà hoan hỉ giảng hòa, lại khiến vua Quang Trung sang diện kiến, nhận làm nghĩa tử. Hai nước thông hiếu, Quang Trung được phong vương, nhân dân hai nước hưởng thái bình, các quan giữ được ghế và có thêm vàng bạc, binh lính không còn bị chết chóc ám ảnh nữa. Duy có một người, vẫn còn mơ hồ ôm mộng đồ vương, ngày đêm trông ngóng quân thiên triều khởi binh mà không biết lịch sử đã sang trang. Đó là cựu vương Lê Chiêu Thống, vị vua cuối cùng triều hậu Lê.
Nguyên khi mới sang tá túc ở Quế Lâm, vua tôi nhà Lê bị Phúc Khang An dùng mẹo lừa, dùng lời hứa hão mà gọt đầu gióc tóc tất cả và bắt ăn mặc như người Mãn Thanh. Sau đó hắn làm một tờ biểu kín tâu với vua Thanh, đại ý nói vua An Nam không còn muốn về nước nữa, chỉ muốn sống yên ổn trên đất Trung Quốc . Còn Hòa Khôn thì cũng lựa dịp xin phong vương cho vua Quang Trung. Các lời tâu đều được chuẩn y nên năm sau (1790) có chiếu chỉ vời vua cũ và các cựu thần về Yên Kinh. Tại đây , vua Lê được ban cho chức quan hờ và không còn được đoái hoài gì tới, dần dần hiểu ra thân phận và lấy làm hết sức căm giận.
      Sách Cương mục chép : “ … nhà vua căm giận vì bị nhà Thanh lừa gạt, bèn cùng bọn bề tôi là Phạm Như Tùng, Hoàng Ích Hiểu, Lê Hân, Nguyễn Quốc Đống, Nguyễn Viết Triệu, Lê Quý Thích, Nguyễn Đình Miên (Cẩm) , Lê Văn Trương, Lê Tùng và Lê Thức tổng cộng mười người cùng nhau uống máu ăn thề rồi thảo tờ biểu dâng lên vua Thanh xin viện binh, nếu không thể thì cũng xin đất hai châu Tuyên Quang và Thái Nguyên để có chỗ thờ cúng tổ tiên, hoặc lẽn về Gia Định nương nhờ triều ta ( triều Nguyễn) để dần dà kiếm kế khôi phục, chứ nhất quyết không chịu sống thừa ở đất Bắc. ”. Tờ biểu thảo xong, bọn họ đến báo trước cho viên quan nhà Thanh là Kim Giản , người này lựa lời an ủi rồi bàn với Hòa Khôn phân tán mỗi người một nơi. Phạm Như Tùng ở Hắc Long Giang, Hoàng Ích Hiểu ở Y Lê, Lê Hân ở Phụng Thiên, Nguyễn Quốc Đống ở Cát Lâm, Nguyễn Viết Triệu ở Nhiệt Hà… Vua Lê nghe tin lấy làm buồn rầu căm phẫn, sáng sớm đi ngựa vào nhà Kim Giản muốn phân trần việc thống khổ của bọn bề tôi. Khi ấy Kim Giản đã vào chầu vua Thanh ở vườn Viên Minh, vua Lê bèn phi ngựa luôn tới cửa vườn, bị lính canh giữ ngăn lại, giằng lấy ngựa rồi bắt vua xuống bộ, định đưa đi nơi khác. Người dắt ngựa của vua là Nguyễn Văn Quyên bèn níu lấy cương ngựa mà mắng rằng :
-         Đồ vô lễ, dám làm nhục vua ta à ?
Nói rồi liền lấy đá ở sân ném bừa vào bọn chúng. Đám lính này bèn kéo đến đánh Văn Quyên một trận gần chết, xong đem về giam ở tòa Thận Hình [], hơn tháng sau thả ra thì Văn Quyên chịu đau không nổi mà mất. Bấy giờ là mùa hè năm Tân Hợi (1791). Từ đấy vua Lê không còn dám nói đến việc xin quân cứu viện nữa nhưng lòng oán hờn tích tụ lâu ngày, sinh ra bịnh nặng. Qua năm sau, con trưởng của vua lên đậu rồi mất, nhân thế bệnh vua càng thêm nguy kịch. Các bề tôi bị an trí nơi khác nghe tin đều dâng biểu về vấn an.
Ngày Ất Tỵ (ngày 16), tháng 10, mùa đông năm Quý Sửu, niên hiệu Càn Long thứ 58 ( 1793), nhà vua trở bệnh nặng, bèn cho gọi bọn thị thần Lê Duy Khang, Phạm Đình Thiện, Đinh Nhã Hành tới nhận lời trăng trối :
-         Vận nước suy vi, ta không thể giữ được xã tắc, phải nương tựa nơi đất khách quê người hòng tính kế khôi phục nhưng không ngờ bị bọn quyền gian lừa gạt, uất hận khôn xiết. Sau này nếu có ai trong bọn ngươi được về nước thì nên đèo nắm xương tàn của ta về táng cạnh lăng tiên vương ( Bàn Thạch- Thanh Hóa) để tỏ cho người trong nước biết tấm lòng mong mõi ( trở về) của ta.
Các bề tôi đều khóc lạy xin vâng mệnh. Chốc lát vua mất, thọ 28 tuổi.
Vua ở ngôi 2 năm ( 1786-1788), là vị vua thứ 27 và cũng là vị vua cuối cùng nhà Hậu Lê, triều đại kéo dài hơn 360 năm trong giai đoạn đầy biến động của lịch sử Việt Nam.
Năm Bính Thìn (1796), Lê Thái hậu thấy các bề tôi ở nơi đất khách khổ sở mà ngày về mờ mịt, bèn dâng tờ biểu xin cho các quan được lấy vợ bản địa (người Trung Quốc), vua Thanh thuận cho, lại cấp thêm tiền bạc làm lễ cưới. Ba năm sau, Thái hậu cũng mất tại Yên Kinh.
Năm Giáp Tý ( 1804), vua Gia Khánh đồng ý cho đưa di hài vua Lê, Thái hậu và các quan tùy tùng về táng quê nhà, chu cấp lộ phí và sai các quan địa phương giúp đỡ đưa ra khỏi ải. Mùa thu, di hài về đến Thăng Long, các quan cựu thần đến tế. Cuối đông năm đó, vua được táng cạnh lăng Hiển Tông trên núi Bàn Thạch (Thọ Xuân – Thanh Hoá).


KIẾN HÀO lạm bàn :

Hành vi rước quân xâm lược về cướp nước của Lê Chiêu Thống là một vết nhơ trong trang sử Việt, muôn đời không rửa sạch. Xưa nay không hiếm những kẻ giả nhân giả nghĩa, dùng lời nói huyễn hoặc để ngụy biện cho hành vi giả trá xấu xa của mình , nhưng có một kẻ mà họ không thể lừa dối được, đó chính là bản thân họ. Những Trần Kiện, Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống… ý thức rất rõ việc mình làm, cũng như biết trước sẽ chịu lời phê phán đến ngàn năm sau nhưng chỉ vì đặt quyền lợi trước mắt của bản thân và phe đảng, dòng họ lên trên lợi ích đất nước, nhân dân mà cam lòng làm tay sai cho ngoại bang. Lời trăng trối của Lê Chiêu Thống đã nói lên điều đó. Ngày nay, nghe nói đến Lê Chiêu Thống là mọi người nhớ ngay đến thành ngữ “cõng rắn cắn gà nhà ”. Thực ra trong vô số tội thì cũng phải có một chút công: một là khiến bọn bán nước, tay sai ngoại bang đời sau phải chùn tay ngần ngại, bớt liều lĩnh khi nhìn tấm gương của kẻ đi trước bị người đời nguyền rủa; hai là làm nhân vật phản diện, khiến cho hình ảnh vua Quang Trung càng thêm sáng rỡ .   
Xin trích ra đây một quan điểm điển hình, liên quan đến việc muôn đời sau là giữ nước và bảo vệ nền độc lập nước nhà :
Vua Trần Nhân Tông đã để lại di chúc như sau :
-“ Các người chớ quên nước lớn thường làm điều trái đạo. Họa muôn đời của nước ta là nước Tàu. Họ không tôn trọng quy ước và biên giới. Luôn luôn bày đặt chuyện để gây hấn. Không thôn tính được thì gặm nhắm đất đai của ta. Vậy các ngươi phải nhớ lời ta dặn. Một tấc đất cũng không lọt vào tay kẻ thù. Đây là di chúc cho con cháu muôn đời.”.
(10/2010)

Friday, October 29, 2010

Thói Hám Danh Nước Vệ

Lathiews

             Nước Vệ, mùa thu năm Canh Dần, bốn phương phẳng lặng, mưa thuận gió hòa, người người đều ra sức chăm lo làm việc, kho lẫm đầy đủ, việc giáo hóa nơi cửa Khổng sân Trình càng gặp nhiều thuận lợi.
             Có bọn mưu sĩ nhân thấy tình hình như vậy mới tranh thủ hiến kế với quan Lệnh Doãn ở chốn kinh thành :
- Đất kinh kỳ ta mang tiếng nghìn năm văn hiến nhưng công trình văn hóa thì có thể đếm chỉ trên đầu ngón tay. Như vậy sao xứng gọi là nơi hội tụ hiền tài, tập trung nguyên khí của quốc gia. Chúng tôi xin mạnh dạn đề xuất với ngài một bước đột phá mới, gọi là khuyến khích tinh thần hiếu học và ghi nhớ nhân tài đất nước…
- E hèm. Nói gì thì nhanh lên, đừng vòng vo tam quốc làm ta sốt ruột.
- Dạ vâng. Như các triều trước vì ba năm mới mở một khoa thi nên nhân tài như lá (trên cây) mùa thu, số Tiến sĩ như chim (bay) buổi tối . Cũng vì ít ỏi như thế nên bọn thợ đá tạo tác mới có thời gian mà đục hình rùa đội bia trong Văn miếu. Nay ở chốn kinh đô ta, bậc Tiến sĩ đi lại đầy đường, còn bậc thấp hơn như Thạc sĩ, Cử nhân thì không tài nào đếm xuể. Để vinh danh họ, xin ngài đệ đạt lên trên, cho khắc họ tên, quê quán các Tiến sĩ đời nay vào bia cẩm thạch đưa vào nhà bia Văn miếu để cho các thế hệ trăm đời sau được tường.
- Nhà ngươi nói thật đúng ý ta. Vốn từ lâu ta đã bảo quan Tế tửu Tư nghiệp phải cố gắng lập kế hoạch sao cho trong vòng một giáp ( 12 năm ) tới , đào tạo cho được mười ngàn Tiến sĩ phục vụ trong bộ máy công quyền. Từ nay, phải tiêu chuẩn hóa trình độ công bộc, ghế nào tương xứng với bằng cấp nấy, bãi bỏ lệ sống lâu lên lão làng làm cản trở bước đường tiến thân của lớp kế thừa. Ai đỗ Tiến sĩ sẽ được đặc cách nâng lương, nâng bậc, quốc khố thanh toán lại đầy đủ chi phí học tập; kẻ nào học không nổi do chỉ số IQ quá thấp phải chịu giáng cấp hoặc hưu sớm trước tuổi.
            Phàm kẻ sĩ đang xuất thế làm nô bộc cho nhân dân, nghe nói hai từ “ hưu sớm ” như sét đánh ngang tai, sợ còn hơn bị bệnh nan y, chỉ mong sao lấy được tấm bằng  tiến sĩ danh giá để còn cơ hội phục vụ. Kể từ đó, ở đất kinh kỳ xuất hiện ngày càng nhiều các trung tâm luyện thi, đào tạo tại chức như nấm mọc sau mưa, khắp hang cùng ngõ hẽm cụt đâu đâu cũng vang lên tiếng ê a ngày đêm không dứt. Các quan trợ giảng chạy đi chạy lại giữa các lò đào tạo như bị ma đuổi, không còn thời giờ đâu mà đào sâu nghiệp vụ; tình cảnh không khác gì bọn con hát chạy sô. Chương trình học cũng bị cắt ngắn cho kịp thời gian thi sát hạch nên sách thánh hiền phải bỏ bớt như Tứ thư chỉ còn Tam Thư (bỏ Luận Ngữ), Ngũ Kinh chỉ còn Nhị Kinh (bỏ Kinh Lễ, Kinh Dịch và Kinh Xuân Thu ). Lại nữa phàm những sách toán pháp và thiên văn do bọn người nước ngoài như Phú Lãng Sa hay Anh Cát Lợi biên soạn, trong nước rất ít người có khả năng nghe, nói, đọc và viết được nên đa phần phải học qua sách dịch. Bọn rỗi hơi ở Kẻ chợ gọi mỉa là Tiến - sĩ - nhai - lại . Lượng thay đổi thì chất cũng thay đổi, học vị tiến sĩ xem ra cũng thường.
Giữa lúc đó bỗng có tin đồn ở Quốc Tử Giám đang liên kết đào tạo tiến sĩ với các nước Tây phương, chương trình nước ngoài nhưng không cần xuất dương, do các quan mắt xanh mũi lõ giảng có kẻ đứng cạnh phiên dịch, sách vở tài liệu cũng được dịch sang tiếng nước Vệ. Các quan kháo nhau: Phen này chúng mình nhận bằng nước ngoài; có chứng nhận của các quan Thị lang, Tham tri Bộ Lễ , để xem bọn xấu miệng trong nước còn nói gì nữa không .
Có điều do cái gì cũng nước ngoài nên học phí cũng tính bằng tiền nước ngoài, công khố phải một phen lao đao. Những kẻ biết việc mới cười (thầm) mà nói (nhỏ) với nhau rằng : “thói hám danh, chuộng khoa trương, chạy theo hình thức chỉ làm hao tốn quốc khố,  thực chỉ có lợi cho bọn đầu cơ, không khác gì đóng thêm cho chúng cái tủ đựng tiền ! ” .
Nghe nói hiện các quan bộ Lễ đang soạn kế hoạch xây dựng bốn trường Đại học thật oách ngang tầm quốc tế, cho bọn man di bốn cõi biết thế nào là nước Vệ.